Bảo tồn văn hóa – Kinhdoanhkhoinghiep.com https://kinhdoanhkhoinghiep.com Trang thông tin kinh doanh & khởi nghiệp Sat, 11 Oct 2025 22:27:27 +0000 vi hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.7.2 https://cloud.linh.pro/kinhdoanhkhoinghiep/2025/08/kinhdoanhkhoinghiep.svg Bảo tồn văn hóa – Kinhdoanhkhoinghiep.com https://kinhdoanhkhoinghiep.com 32 32 Đoàn Đảng Bảo tàng Sơn La: Bảo tồn và lan tỏa di sản văn hóa dân tộc https://kinhdoanhkhoinghiep.com/doan-dang-bao-tang-son-la-bao-ton-va-lan-toa-di-san-van-hoa-dan-toc/ Sat, 11 Oct 2025 22:27:24 +0000 https://kinhdoanhkhoinghiep.com/doan-dang-bao-tang-son-la-bao-ton-va-lan-toa-di-san-van-hoa-dan-toc/

Bảo tàng và Thư viện tỉnh Sơn La là những đơn vị tiên phong trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc. Với tinh thần trách nhiệm và tình yêu với nghề, họ đã không ngừng nỗ lực lan tỏa truyền thống lịch sử và bản sắc văn hóa đến với cộng đồng. Đây là hành động xuất phát từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của việc bảo tồn di sản văn hóa, xem di sản văn hóa là linh hồn trường tồn của một dân tộc.

Thực hiện các nội dung đột phá về bảo tồn văn hóa phi vật thể, bảo tồn di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh, quản lý hiện vật, tư liệu, Chi bộ Bảo tàng và Thư viện tỉnh Sơn La đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực. Theo đồng chí Ngô Thị Hải Yến, Bí thư Chi bộ, Giám đốc Bảo tàng và Thư viện tỉnh, Chi bộ có 45 đảng viên, thường xuyên tổ chức các cuộc sinh hoạt chuyên đề phù hợp với tình hình thực tiễn của cơ quan. Mỗi cán bộ, đảng viên đã cụ thể hóa và đăng ký thực hiện 2-3 phần việc làm theo Bác, phù hợp với nhiệm vụ chuyên môn.

Trong giai đoạn 2016-2024, đơn vị đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể. 15 di sản văn hóa phi vật thể của Sơn La đã được công bố và đưa vào danh mục quốc gia; trong đó, nghệ thuật Xòe Thái được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ngoài ra, 10 di tích đã được xếp hạng; hơn 35.000 hiện vật, tư liệu được bảo quản tại Bảo tàng Sơn La. Mỗi năm, đơn vị nghiên cứu, sưu tầm thêm từ 200 đến 300 hiện vật, tư liệu phục vụ trưng bày.

Bảo tàng và Thư viện tỉnh Sơn La cũng đặc biệt chú trọng ứng dụng số hóa di sản vào công tác chuyên môn. Họ tiến hành kiểm kê đồng bộ, số hóa, chuẩn hóa tư liệu, hiện vật và đưa đến công chúng qua website hoặc mã QR-Code. Chi bộ đã chỉ đạo triển khai nhiều hoạt động quảng bá, giới thiệu về cuộc đời, sự nghiệp của Bác Hồ. Tại khuôn viên Bảo tàng tỉnh, một chuyên đề cố định “Bác Hồ với nhân dân các dân tộc Sơn La” được trưng bày, giới thiệu hiện vật, hình ảnh quý về tình cảm của Bác đối với đồng bào, cũng như tình cảm của đồng bào các dân tộc Sơn La dành cho Bác.

Trong 2 năm qua (2023 và 2024), Chi bộ đã triển khai mô hình “Giáo dục truyền thống lịch sử địa phương tại điểm Di tích quốc gia đặc biệt Nhà tù Sơn La” cho học sinh các trường tiểu học, THCS, THPT trên địa bàn tỉnh. Họ đã tổ chức 154 cuộc giáo dục truyền thông, thu hút trên 320.000 lượt học sinh, sinh viên và chiến sĩ các lực lượng vũ trang tham gia.

Với tinh thần trách nhiệm và tình yêu với nghề, Chi bộ Bảo tàng và Thư viện tỉnh Sơn La đang từng ngày học và làm theo Bác bằng những việc làm cụ thể, thiết thực trong gìn giữ lịch sử, văn hóa và lan tỏa hình ảnh Bác Hồ – vị lãnh tụ vĩ đại đến với mỗi người dân. Qua đó, hun đúc tình yêu quê hương, đất nước từ những giá trị di sản bền vững.

]]>
Quảng Ninh: Phụ nữ chung tay bảo tồn và lan tỏa giá trị văn hóa https://kinhdoanhkhoinghiep.com/quang-ninh-phu-nu-chung-tay-bao-ton-va-lan-toa-gia-tri-van-hoa/ Thu, 18 Sep 2025 14:42:55 +0000 https://kinhdoanhkhoinghiep.com/quang-ninh-phu-nu-chung-tay-bao-ton-va-lan-toa-gia-tri-van-hoa/

Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) Quảng Ninh đã và đang tích cực triển khai nhiều hoạt động thiết thực nhằm thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Quảng Ninh trở thành nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh, bền vững. Các hoạt động này không chỉ góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc mà còn lan tỏa tinh thần sáng tạo và hành động văn minh trong thời đại số.

Nhiều năm qua, mô hình "Biến rác thành tiền" của Hội LHPN phường Đông Triều được thực hiện để gây quỹ để ủng hộ cho hội viên phụ nữ và người dân có hoàn cảnh trên địa bàn.
Nhiều năm qua, mô hình “Biến rác thành tiền” của Hội LHPN phường Đông Triều được thực hiện để gây quỹ để ủng hộ cho hội viên phụ nữ và người dân có hoàn cảnh trên địa bàn.

Từ năm 2022 đến nay, Hội LHPN Quảng Ninh đã chủ động xây dựng chương trình hành động và triển khai hiệu quả nhiều mô hình, hoạt động thiết thực. Các cấp hội phụ nữ trong tỉnh đã tăng cường tuyên truyền sâu rộng nội dung Nghị quyết 17-NQ/TU, gắn với các phong trào thi đua như ‘Xây dựng hình ảnh phụ nữ thời đại mới’, ‘Gia đình 5 không, 3 sạch’, ‘Gia đình hạnh phúc’… Qua đó, các đặc trưng con người Quảng Ninh và 6 giá trị đặc trưng của tỉnh đã được lan tỏa rộng khắp tới đông đảo cán bộ, hội viên phụ nữ toàn tỉnh.

Hội viên phụ nữ phường Uông Bí tham gia chương trình giao lưu văn nghệ - dân vũ chào mừng kỷ niệm 24 năm Ngày Gia đình Việt Nam 28/6.
Hội viên phụ nữ phường Uông Bí tham gia chương trình giao lưu văn nghệ – dân vũ chào mừng kỷ niệm 24 năm Ngày Gia đình Việt Nam 28/6.

Hội LHPN Quảng Ninh đã thành lập 23 CLB gìn giữ văn hóa truyền thống tại các xã, phường như Ba Chẽ, Bình Liêu, Tiên Yên, Đầm Hà, Uông Bí, Quảng Yên… Các sinh hoạt này vừa là nơi hội tụ văn hóa cộng đồng, vừa là ‘lớp học truyền thống’ dành cho thế hệ trẻ tại mỗi vùng quê. Bên cạnh đó, gần 2.000 mô hình, CLB văn hóa, văn nghệ – thể dục, thể thao cộng đồng đã được duy trì thường xuyên, tạo nên không gian rèn luyện sức khỏe và gắn kết phụ nữ toàn tỉnh. Các dịp 8/3, 20/10, hay những ngày lễ lớn, các cấp hội cũng tổ chức nhiều chương trình mang đậm bản sắc, như: Tuần lễ áo dài, ngày hội trang phục các dân tộc thiểu số…

Trong các dịp lễ, tết, các hoạt động quan trọng, chị em phụ nữ thường mặc trang phụ áo dài nhằm tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống và lan tỏa tình yêu đối với tà áo dài.
Trong các dịp lễ, tết, các hoạt động quan trọng, chị em phụ nữ thường mặc trang phụ áo dài nhằm tôn vinh giá trị văn hóa truyền thống và lan tỏa tình yêu đối với tà áo dài.

Hội LHPN Quảng Ninh cũng đặc biệt chú trọng bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng sống cho hội viên, nhất là với phụ nữ dân tộc thiểu số. Nhiều hội thảo, chương trình tập huấn về tổ chức cuộc sống gia đình, phòng chống tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản, kỹ năng làm cha mẹ… đã được tổ chức rộng khắp. Hiện, 16 mô hình ‘Chăm sóc, giáo dục trẻ thơ toàn diện’ đã được thành lập tại vùng miền núi, dân tộc thiểu số. Ngoài ra, nhiều mô hình giáo dục gia đình tiếp tục được nhân rộng, như: ‘Nuôi dạy con tốt’, ‘Ông bà gương mẫu – Con cháu thảo hiền’; tư vấn, giáo dục tiền hôn nhân, kỹ năng sống cho trẻ em gái, phòng chống bạo lực, xâm hại phụ nữ và trẻ em…

Các chương trình: ‘Mẹ đỡ đầu’, ‘Đồng hành cùng phụ nữ biên cương’… tiếp tục phát huy hiệu quả rõ nét. Riêng chương trình ‘Mẹ đỡ đầu’ từ năm 2022 đến nay đã hỗ trợ, đỡ đầu cho 720 trẻ mồ côi có hoàn cảnh khó khăn với tổng kinh phí vận động hơn 5 tỷ đồng.

Không dừng lại ở việc gìn giữ, phụ nữ Quảng Ninh còn tiên phong trong lan tỏa giá trị văn hóa bằng nhiều cách làm sáng tạo, thích ứng với thời đại công nghệ số. Với hơn 1.000 nhóm zalo, fanpage và các nền tảng mạng xã hội của Hội Phụ nữ các cấp, hàng nghìn thông tin tích cực, câu chuyện đẹp, hình ảnh người tốt – việc tốt được lan truyền hằng ngày, trở thành kênh tuyên truyền hiệu quả, thân thiện, gần gũi với cộng đồng.

Các cuộc thi: ‘Phụ nữ khởi nghiệp sáng tạo phát huy tài nguyên bản địa’, ‘Phụ nữ khởi nghiệp sáng tạo và chuyển đổi xanh’… khơi dậy tinh thần đổi mới, giúp nhiều sản phẩm OCOP của các cơ sở sản xuất do phụ nữ làm chủ mở rộng thị trường tiêu thụ. Hiện nay, tổng dư nợ ủy thác Ngân hàng CSXH do Hội Phụ nữ quản lý đạt hơn 2.480 tỷ đồng, cao nhất trong các tổ chức chính trị – xã hội, hỗ trợ trên 35.500 hộ phụ nữ phát triển kinh tế bền vững.

Hội Phụ nữ các cấp còn đẩy mạnh phong trào thi đua ‘Xây dựng hình ảnh người phụ nữ Quảng Ninh thời đại mới có tri thức, đạo đức, sức khỏe, năng động, sáng tạo, văn minh, thân thiện’ gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Hội viên phụ nữ thực hiện tốt hương ước, quy ước, nếp sống văn minh nơi công sở và địa phương nơi cư trú; tích cực rèn luyện phẩm chất đạo đức phụ nữ Việt Nam: ‘Tự tin – Tự trọng – Trung hậu – Đảm đang’.

Trong thời gian tới, Hội LHPN Quảng Ninh sẽ tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục các tồn tại, hạn chế; quán triệt và triển khai thực hiện tốt Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, nhất là ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

]]>
Nghĩa Đô – Điểm sáng du lịch văn hóa ở Lào Cai https://kinhdoanhkhoinghiep.com/nghia-do-diem-sang-du-lich-van-hoa-o-lao-cai/ Sun, 14 Sep 2025 12:57:09 +0000 https://kinhdoanhkhoinghiep.com/nghia-do-diem-sang-du-lich-van-hoa-o-lao-cai/

Hai Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Của Lào Cai Được Ghi Danh Quốc Gia

Di sản văn hoá tạo nên lợi thế du lịch cho Lào Cai - Ảnh 5
Di sản văn hoá tạo nên lợi thế du lịch cho Lào Cai – Ảnh 5

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thẩm định và đưa hai di sản văn hóa phi vật thể của Lào Cai vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Trong đó, có loại hình thuộc nhóm ẩm thực đầu tiên của tỉnh: ‘Tri thức dân gian chế biến cá nướng, vịt bầu lam và rượu men lá của người Tày xã Nghĩa Đô’. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của địa phương.

Di sản văn hoá tạo nên lợi thế du lịch cho Lào Cai - Ảnh 2
Di sản văn hoá tạo nên lợi thế du lịch cho Lào Cai – Ảnh 2

Xã Nghĩa Đô là nơi cư trú của cộng đồng người Tày tại Lào Cai, với nền văn hóa truyền thống đậm nét từ ẩm thực đến các nghề thủ công. Trước đó, vào tháng 4/2025, nghề đan lát truyền thống của người Tày Nghĩa Đô cũng đã được ghi danh trong danh mục quốc gia, khẳng định thêm giá trị văn hóa độc đáo của vùng đất này.

Di sản văn hoá tạo nên lợi thế du lịch cho Lào Cai - Ảnh 1
Di sản văn hoá tạo nên lợi thế du lịch cho Lào Cai – Ảnh 1

Theo ông Dương Tuấn Nghĩa, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai, ẩm thực ở Nghĩa Đô được đánh giá cao bởi sự độc đáo đến từ nguyên liệu, quy trình, cách thức làm ra món ăn, nguyên tắc khi thưởng thức trên mâm. ‘Ẩm thực nơi đây là tập hợp của nhiều yếu tố từ thổ nhưỡng, nguồn nước, khí hậu để tạo nên hương vị riêng của địa phương’, ông Nghĩa cho biết.

Di sản văn hoá tạo nên lợi thế du lịch cho Lào Cai - Ảnh 3
Di sản văn hoá tạo nên lợi thế du lịch cho Lào Cai – Ảnh 3

Từ tập quán canh tác nương rẫy và cuộc sống gắn liền với rừng núi cao, đồng bào Tày đã sáng tạo nên một cách nấu ăn rất riêng: sử dụng ống tre, ống nứa thay cho nồi, xoong. Những món ăn đặc trưng như cơm lam, cá suối lam, rau rừng lam… Điểm chung của các món lam là hương vị đậm đà, giữ được độ ẩm và thơm nức mùi tre nứa.

Di sản văn hoá tạo nên lợi thế du lịch cho Lào Cai - Ảnh 4
Di sản văn hoá tạo nên lợi thế du lịch cho Lào Cai – Ảnh 4

Tại Nghĩa Đô, nhiều món ăn được chế biến từ nguyên liệu sẵn có tại địa phương, trong đó nổi bật là món ‘vịt bầu lam’. Món ăn này vẫn tuân thủ triết lý âm dương – ngũ hành trong ẩm thực truyền thống: thịt vịt được lọc và chặt (Kim), nấu trong ống tre (Mộc), dùng nước suối hoặc nước có sẵn trong ống tre (Thủy), nấu bằng lửa nhỏ (Hỏa), trên nền đất giữa núi rừng (Thổ).

Không chỉ hấp dẫn bởi nét ẩm thực truyền thống, các nghề thủ công của người Tày ở Nghĩa Đô cũng phản ánh sự tỉ mỉ, khéo léo và óc thẩm mỹ tinh tế. Từ khâu lựa chọn nguyên liệu, vót nan, định hình khung cho đến kỹ thuật nhuộm màu, hong dẻo – tất cả đều đòi hỏi sự kiên nhẫn và kỹ năng cao.

Những di sản văn hóa phi vật thể của Lào Cai đang được chính người dân địa phương gìn giữ, trao truyền qua nhiều thế hệ. Đây cũng chính là nguồn tài nguyên du lịch độc đáo, góp phần tạo nên sức hấp dẫn riêng cho vùng đất này.

Xã Nghĩa Đô đang được biết đến như một điểm sáng trên bản đồ du lịch Lào Cai, là hình mẫu tiêu biểu cho phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống. Năm 2023, Nghĩa Đô đón khoảng 21.000 lượt khách, thu về 12,6 tỷ đồng từ hoạt động du lịch; sang năm 2024, lượng khách tăng lên 25.000 lượt, doanh thu từ du lịch cộng đồng ước đạt 15 tỷ đồng.

Ông Đỗ Văn Lưu, Chủ tịch UBND xã Nghĩa Đô cho biết địa phương lấy văn hóa dân tộc Tày là cốt lõi để phát triển dịch vụ du lịch. Thời gian tới, xã tiếp tục vừa bảo tồn vừa phát triển văn hóa và các dịch vụ du lịch bền vững để củng cố thương hiệu của du lịch cộng đồng Nghĩa Đô; đồng thời tạo sinh kế, tăng thu nhập cho người dân.

Với đà tăng trưởng này, Lào Cai đặt mục tiêu trong năm 2025 sẽ đón khoảng 12,3 triệu lượt khách, mang lại doanh thu ước đạt 46.705 tỷ đồng. Tầm nhìn đến năm 2030, địa phương kỳ vọng sẽ thu hút khoảng 16,5 triệu lượt khách, doanh thu đạt gần 74.800 tỷ đồng – từng bước đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GRDP của tỉnh.

Để khai thác hiệu quả sức mạnh văn hóa trong phát triển du lịch, biến di sản thành tài sản, cần sự vào cuộc bền bỉ, sáng tạo và chung tay đồng thuận của chính quyền và người dân. Mỗi di sản đều mang trong mình những câu chuyện hấp dẫn thể hiện nét đẹp văn hóa các tộc người. Do đó, bên cạnh việc gìn giữ di sản cần tăng cường công tác quảng bá, để mỗi người cùng hiểu – cùng yêu – cùng bảo tồn những di sản đa dạng trong đời sống hiện nay.

]]>
Lễ Mừng Lúa Mới Của Dân Tộc Bru-Vân Kiều: Bản Hòa Ca Bản Sắc https://kinhdoanhkhoinghiep.com/le-mung-lua-moi-cua-dan-toc-bru-van-kieu-ban-hoa-ca-ban-sac/ Sat, 30 Aug 2025 02:27:34 +0000 https://kinhdoanhkhoinghiep.com/le-mung-lua-moi-cua-dan-toc-bru-van-kieu-ban-hoa-ca-ban-sac/

Lễ mừng lúa mới – một phong tục truyền thống lâu đời của đồng bào Bru-Vân Kiều trên dãy Trường Sơn – vẫn được gìn giữ và tổ chức với sự trang trọng và long trọng. Đây không chỉ là dịp để người dân bản làng ăn mừng vụ mùa bội thu mà còn là cơ hội để bày tỏ lòng biết ơn với trời đất, thần linh và tổ tiên đã phù hộ cho cây lúa trổ bông, trĩu hạt.

Bà con Bru-Vân Kiều bản Chênh Vênh cùng nhau tổ chức lễ mừng lúa mới. Ảnh: Việt Bắc
Bà con Bru-Vân Kiều bản Chênh Vênh cùng nhau tổ chức lễ mừng lúa mới. Ảnh: Việt Bắc

Thông thường, lễ mừng lúa mới được tổ chức vào cuối vụ gặt, khi trong kho đã đầy lúa và trong lòng người dân đầy háo hức. Mỗi bản làng có quy mô và tập tục riêng, nhưng tất cả đều giữ được cốt lõi của lễ hội: biết ơn và cầu mong. Đối với người Bru-Vân Kiều, cây lúa không chỉ là nguồn thực phẩm mà còn là biểu tượng của sự sống và nhịp đập của cả cộng đồng.

Trong không gian sắc màu thổ cẩm và tiếng chiêng trầm bổng, lễ mừng cơm mới ngân lên giai điệu văn hóa dân tộc mộc mạc, sâu lắng và thấm đượm tình đất, tình người. Từ tờ mờ sáng, khói bếp đã tỏa lên từ từng nóc nhà. Những người phụ nữ trong bản thay nhau nấu xôi, đồ cơm, giã gạo nếp mới. Đĩa thịt rừng được tẩm ướp gia vị thơm nức, chum rượu cần đã được mở nắp, sẵn sàng cho buổi lễ lớn nhất trong năm.

Già làng Hồ Noi sẽ thực hiện nghi lễ chính thức. Trước bàn cúng, ông rì rầm khấn: “Ơi Giàng! Ơi thần lúa, thần núi, thần suối… xin nhận lễ của con cháu Bru-Vân Kiều. Cảm ơn đã cho mùa lúa tốt tươi, cho con cái được mạnh khỏe, bản làng được yên vui…”. Giọng khấn của già làng hòa trong làn khói của hương trầm, như kết nối giữa thế giới con người và thế giới linh thiêng.

Sau phần lễ là phần hội. Không khí nhanh chóng chuyển từ trầm mặc sang rộn ràng, tươi vui. Chiêng được mang ra, những thanh niên lực lưỡng vỗ trống, những cô gái khoác lên mình bộ váy thổ cẩm sặc sỡ, nhún nhảy theo nhịp nhạc núi rừng. Vũ điệu xoang Bru-Vân Kiều chậm rãi, dẻo dai, mang hơi thở của thiên nhiên, có núi, có sông, có gió rừng xào xạc trong từng bước chân.

Trải qua bao biến thiên của lịch sử và sự chuyển mình của đời sống hiện đại, lễ mừng lúa mới vẫn được người Bru-Vân Kiều trên dãy Trường Sơn gìn giữ như một phần máu thịt. Không chỉ là phong tục, lễ hội này còn là minh chứng cho bản sắc bền vững của một tộc người luôn sống hài hòa với thiên nhiên.

Ngày nay, chính quyền địa phương và các đồn Biên phòng đóng quân trên địa bàn luôn đồng hành cùng bà con trong việc phục dựng và tổ chức các lễ hội truyền thống. Nhiều trường học vùng cao còn đưa nội dung về lễ mừng lúa mới vào chương trình ngoại khóa, giúp học sinh người Bru-Vân Kiều hiểu và tự hào về truyền thống dân tộc mình.

Lễ mừng cơm mới không chỉ nói lên mối giao cảm giữa con người với thiên nhiên, mà còn là biểu tượng của sự cố kết cộng đồng, của tình cảm thủy chung, son sắt giữa người với người. Trong từng nắm cơm dẻo, từng điệu xoang nhịp nhàng, lễ mừng lúa mới là bản hòa ca của bản sắc, của ký ức cộng đồng được truyền từ đời này sang đời khác.

]]>
Thái Nguyên: Phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi https://kinhdoanhkhoinghiep.com/thai-nguyen-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-vung-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui/ Tue, 19 Aug 2025 06:27:24 +0000 https://kinhdoanhkhoinghiep.com/thai-nguyen-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-vung-dan-toc-thieu-so-va-mien-nui/

Thái Nguyên – một tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam – đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Với nhiều giải pháp đồng bộ và hiệu quả, tỉnh đã cải thiện đáng kể hạ tầng kỹ thuật, văn hóa – xã hội thiết yếu như điện, đường, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa tại các bản làng.

Bản Tèn xã Văn Lăng hứa hẹn là một điểm đến mới.
Bản Tèn xã Văn Lăng hứa hẹn là một điểm đến mới.

Những nỗ lực này không chỉ nâng cao mức sống của người dân mà còn làm thay đổi căn bản tập quán canh tác và bộ mặt bản làng. Các bản làng dân tộc thiểu số tại Thái Nguyên nay đã có những gam màu tươi sáng với những ngôi nhà mới xây dựng, đường sá được mở rộng và trải bê tông, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu và phát triển kinh tế.

Truyền dạy đàn tính hát then cho lớp trẻ.
Truyền dạy đàn tính hát then cho lớp trẻ.

Việc đầu tư có trọng tâm trọng điểm, phù hợp với điều kiện, tiềm năng thế mạnh, phong tục tập quán của đồng bào đã thu được kết quả tích cực. Công tác vận động quần chúng phát huy quyền làm chủ, sự tham gia chủ động của cộng đồng và người dân đã khơi dậy tinh thần nỗ lực vươn lên của đồng bào. Nhờ đó, tỷ lệ hộ nghèo giảm sâu, khoảng cách về mức sống so với bình quân chung của tỉnh từng bước thu hẹp. Sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa của các vùng dân tộc có bước phát triển mới.

Bản Tày xã Đồng Phúc dưới nắng ban mai.
Bản Tày xã Đồng Phúc dưới nắng ban mai.

Tỉnh Thái Nguyên cũng đẩy mạnh việc trang bị kiến thức về khoa học kỹ thuật, hỗ trợ vật tư phân bón, nguồn cây, con giống chuyển đổi cây trồng vật nuôi, phát triển ngành nghề, làng nghề truyền thống. Hệ thống hạ tầng viễn thông được xây dựng tạo điều kiện cho bà con tiếp cận các nền tảng công nghệ số.

Một số sản phẩm nông nghiệp của tỉnh đã có giá trị thương phẩm cao, trong đó chè là cây trồng chủ lực. Nhiều địa phương đã tập trung phát triển và đã cho sản lượng, giá trị thương phẩm cao với các loại cây trồng như na, bưởi, quế… Sản phẩm truyền thống như dệt, may trang phục dân tộc, mật ong, gạo nếp vải, cốm, miến dong, rượu men lá… đã đáp ứng yêu cầu về chất lượng, thị hiếu người tiêu dùng và đã đạt tiêu chuẩn OCOP.

Bên cạnh những thành tựu, vẫn còn một số khó khăn và thách thức mà tỉnh cần phải vượt qua. Các vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi địa hình trải rộng, mật độ dân cư không tập trung, trình độ sản xuất còn dựa nhiều vào yếu tố tự nhiên, phương thức canh tác giản đơn, giá trị kinh tế thấp, ít cơ hội tiếp cận việc làm phi nông nghiệp.

Cơ sở hạ tầng nhiều xã phía Bắc của tỉnh chưa được đầu tư hoàn thiện. Cơ chế, chính sách chưa đủ hấp dẫn thu hút doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế mạnh đầu tư vào công nghiệp chế biến, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị tại các xã vùng sâu, vùng xa.

Tuy nhiên, bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số tại Thái Nguyên vẫn được giữ gìn và phát huy. Những nét đẹp mang giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào như ngôn ngữ, trang phục truyền thống, phong tục tập quán, nghi lễ tín ngưỡng, ẩm thực, dân ca dân vũ được các cấp ủy, chính quyền tạo điều kiện cho bà con bảo tồn và phát huy.

Mới đây, tỉnh Thái Nguyên đã ban hành đề án phát triển du lịch cộng đồng với nhiều triển vọng về các điểm đến mới và tạo thêm việc làm cho người dân. Làng du lịch sinh thái nhà sàn Thái Hải, Làng du lịch cộng đồng xóm Mỏ Gà, Làng văn hóa dân tộc bản Quyên… có thể coi là hình mẫu để nâng cao, nhân rộng.

Trong thời gian tới, tỉnh cần tiếp tục quan tâm và có những giải pháp hiệu quả hơn nữa để phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi một cách bền vững.

]]>
Tu bổ đình Đô Mỹ với 14,6 tỷ đồng để bảo tồn di sản lịch sử https://kinhdoanhkhoinghiep.com/tu-bo-dinh-do-my-voi-146-ty-dong-de-bao-ton-di-san-lich-su/ Mon, 11 Aug 2025 17:57:41 +0000 https://kinhdoanhkhoinghiep.com/tu-bo-dinh-do-my-voi-146-ty-dong-de-bao-ton-di-san-lich-su/

Ngôi đình Đô Mỹ, tọa lạc tại xã Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa, hiện đang đối mặt với nguy cơ đổ sập bất cứ lúc nào do tình trạng xuống cấp nghiêm trọng sau gần 200 năm tồn tại. Để cứu nguy cho di tích cấp tỉnh này, dự án tu bổ, tôn tạo đã được triển khai với tổng mức đầu tư hơn 14,6 tỷ đồng.

Đại nhạc hội T&T City Millennia – Bản tuyên ngôn Khơi mạch nguồn Di sản, Vững bước Kỷ nguyên mới
Lập biên bản, kiểm kê, chụp hình từng hạng mục
Lập biên bản, kiểm kê, chụp hình từng hạng mục

Được xây dựng từ giữa thế kỷ XIX, đình Đô Mỹ ban đầu được dùng để thờ Thành hoàng Thái úy Tô Hiến Thành, cùng với hai vị Đô Bá và Nguyễn Thận Xuân. Năm 1996, đình được công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh và nằm ở xã Hà Tân cũ, nay là xã Tống Sơn. Trải qua thời gian dài, công trình gỗ bề thế này đã bị xuống cấp nghiêm trọng. Người dân địa phương đã nhiều lần đề nghị các cấp có thẩm quyền sớm xem xét để tôn tạo, tu bổ nhưng chưa có kinh phí.

Phần bên hông đình
Phần bên hông đình
Hoa văn và các dòng chữ được khắc trên cột gỗ
Hoa văn và các dòng chữ được khắc trên cột gỗ

Sau nhiều lần nâng lên, đặt xuống, dự án tu bổ, tôn tạo di tích đình Đô Mỹ đã được phê duyệt vào tháng 5/2025. Công trình được khởi công vào tháng 6/2025 và dự kiến hoàn thành, đưa vào sử dụng trước Tết Nguyên đán 2026. Đối với các công trình văn hóa, việc phục dựng, tôn tạo phải giữ được yếu tố gốc, các nét họa tiết, hoa văn đặc trưng của công trình gắn với thời kỳ lịch sử.

Các loại gạch, ngói được lấy mẫu
Các loại gạch, ngói được lấy mẫu

Phó Chủ tịch UBND xã Tống Sơn, bà Phan Thị Lan, cho hay: “Đình Đô Mỹ là một công trình kiến trúc tiêu biểu của thời Nguyễn, mang đậm dấu ấn văn hóa truyền thống. Việc đình được tu bổ là sự kiện lớn, mang lại niềm vui, sự phấn khởi cho hàng nghìn người dân trong vùng. Mọi người mong mỏi công trình được hoàn thành đúng tiến độ, vừa bảo tồn di sản, vừa phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống hiện nay.”

Các phiến đá kê phía dưới cột được giữ lại
Các phiến đá kê phía dưới cột được giữ lại

Để bảo tồn nguyên trạng kiến trúc gốc, trước khi hạ giải, các đơn vị có chuyên môn của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Thanh Hóa, cùng với đại diện người dân, chính quyền, đơn vị thi công đã lập biên bản, quay clip, chụp ảnh từng nét hoa văn, họa tiết. Đình Đô Mỹ không chỉ là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh, đình còn là biểu tượng của truyền thống và lịch sử quê hương. Việc nâng cấp đình không chỉ góp phần bảo tồn di sản mà còn thể hiện sự quan tâm của chính quyền tới đời sống tinh thần của nhân dân.

Tìm giải pháp thu hút khách quốc tế đến với du lịch Thanh Hóa
Tìm giải pháp thu hút khách quốc tế đến với du lịch Thanh Hóa

Hiện nay, đơn vị thi công đang dọn dẹp mặt bằng, lấy cốt, phân loại các phiến đá còn sử dụng được, các phiến hư hỏng thì đặt đơn vị đục, đẻo cho đúng kích cỡ. Phần trụ cột bằng lim cũng được đo kỹ càng để khi thay thế đảm bảo chất lượng, chủng loại. Tiến độ thi công đang được thực hiện khẩn trương, nhằm hoàn thành công trình đúng tiến độ đã đề ra.

Móng đình cũ được bắn cốt giữ nguyện trạng
Móng đình cũ được bắn cốt giữ nguyện trạng

Với sự vào cuộc của chính quyền địa phương và các đơn vị thi công, dự án tu bổ, tôn tạo di tích đình Đô Mỹ đang được triển khai tích cực. Khi hoàn thành, đình Đô Mỹ sẽ không chỉ là một di tích lịch sử văn hóa, mà còn là một điểm đến hấp dẫn du khách, góp phần thúc đẩy phát triển du lịch và kinh tế địa phương.

Kết quả khai quật khảo cổ tại di tích Tháp đôi Liễu Cốc
Kết quả khai quật khảo cổ tại di tích Tháp đôi Liễu Cốc

Không gian thoáng, rộng rãi để người dân sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống
Không gian thoáng, rộng rãi để người dân sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống
]]>